Chủ Nhật, 31 tháng 12, 2000

Quế giúp tăng cường trí nhớ

Nghiên cứu gần đây của Mỹ cho thấy quế có tác dụng tốt cho não bộ, giúp tăng cường trí nhớ.

Quế có tác dụng chống viêm, kháng khuẩn, kháng virus. Những nghiên cứu trước đây cho thấy quế giàu chất chống oxy hóa vì vậy được xem như là thực phẩm giúp làm chậm xuất hiện bệnh Alzheimer.

Nghiên cứu mới cho thấy một hợp chất khác có trong quế đó là natri benzoat có tác dụng tốt cho não bộ. Kết quả nghiên cứu được công bố trên Tạp chí "Le Journal of Neuroimmune Pharmacology" cho thấy rằng quế giúp cải thiện trí nhớ, làm chậm suy giảm nhận thức và điều này không chỉ tốt cho người cao tuổi mà ngay cả giới trẻ.

Các nhà nghiên cứu của Đại học "Rush et du Veterans Affairs Medical Center de Chicago"- Mỹ đã tiến hành nghiên cứu trên chuột. Để đánh giá khả năng ghi nhớ của chuột, họ đã đặt những con chuột vào trong "mê cung" và đầu kia là miếng mồi ngon. Điều này cho phép các nhà nghiên cứu chia chuột làm 2 nhóm. Nhóm thứ 1 là nhóm chuột tìm đường ra rất nhanh và nhóm thứ 2 phải mất nhiều thời gian để tìm lối ra. Sau đó họ đã bổ sung thêm quế vào thức ăn của nhóm chuột thứ 2 trong thời gian 1 tháng, thử lại thí nghiệm như lần đầu và cho thấy kết quả khả quan hơn.

Khi những con chuột chậm nhất phải mất trung bình khoảng 150 giây để tìm lối ra trong thử nghiệm lần 1 thì trong thử nghiệm thứ 2 chỉ mất khoảng 60 giây và như vậy sau 1 tháng bổ sung thêm quế vào trong khẩu phần ăn, chuột đã mất ít thời gian hơn để tìm lối ra (giảm được 90 giây). Vậy điều gì đã xảy ra? Các nhà nghiên cứu đã tiến hành phân tích tế bào của não chuột, họ đã nhận thấy rằng chính natri benzoat có trong quế có tác dụng trực tiếp lên vùng hải mã- trung tâm chính của bộ nhớ, ngoài ra còn có tác dụng cải thiện cấu trúc của tế bào.

Tuy nhiên nếu natri benzoat được cho là có hại cho gan khi tiêu thụ lượng lớn thì theo các nhà khoa học đã nhận thấy khá an toàn trong quế và khi được chuyển hóa sẽ nhanh chóng đào thải qua nước tiểu.

Những thử nghiệm ban đầu đã thành công trên chuột nhưng cần phải có những thử nghiệm trên người. Tuy nhiên một điều chắc chắn rằng chỉ cần rắc nhúm quế vào bánh ngọt hay trà, bạn sẽ có thể tiêu thụ một lượng chất chống oxy hóa! Hơn thế nữa quế còn giúp điều chỉnh lượng đường trong máu, giảm cảm giác mệt mỏi.

Bs Ái Thủy

(Theo Metronews.fr)

Thanh sương tử mát gan, thanh nhiệt

Thanh sương tử còn có tên là thanh tương tử, mào gà trắng, đuôi lươn, dã kê quan, là hạt chín của cây mào gà trắng (Celosia argentea L.),. Thanh sương tử chứa dầu béo, nitrat, kali, acid nicotinic (vitamin PP).

Hạt vị đắng, tính hơi hàn; vào kinh can; có tác dụng thanh can minh mục, sơ phong thanh nhiệt. Làm mát gan sáng mắt. Dùng cho các trường hợp mắt đỏ, đau sưng nề, kéo màng, lở ngứa ngoài da. Hoa vị nhạt, tính mát; có tác dụng thanh nhiệt, mát huyết, cầm máu, tiêu viêm. Lá cây thanh sương tử trị viêm phế quản, hen phế quản, viêm dạ dày ruột. Dùng nước sắc để tắm có thể trị mẩn ngứa ngoài da, mề đay, sưng mủ, trĩ xuất huyết. Hằng ngày dùng 10 - 20g dưới dạng nấu, hầm, sắc. Sau đây là một số cách dùng thanh sương tử làm thuốc.

Thanh sương tử là hạt của cây mào gà trắng, tác dụng mát gan, sáng mắt.

Mát gan, sáng mắt: trị chứng can hoả bốc lên làm mắt đỏ sưng đau, mắt có màng, nhìn mờ.

Bài 1: thanh sương tử 12g, tang diệp 12g, cúc hoa 12g, mộc tặc 12g, long đởm thảo 4g. Sắc uống. Trị can hỏa bốc gây đau mắt đỏ, sợ ánh sáng, chảy nước mắt, váng đầu, nhức đầu…

Bài 2: thanh sương tử 20g, cốc tinh thảo 20g. Sắc uống. Trị mắt kéo màng, nhìn mờ.

Bài 3: thanh sương tử 12g, mật mông hoa 12g, cúc hoa 12g. Sắc uống. Trị viêm màng tiếp hợp cấp tính, mắt đỏ, sợ ánh sáng.

Bài 4: Thanh tương tử: lá dâu, cúc hoa, cỏ tháp bút, mỗi vị 12g; cỏ thanh ngâm 4g. Sắc uống và xông chữa mắt sưng đau, chói, sợ ánh sáng, chảy nước mắt và đau đầu.

Chữa trĩ ra máu: hạt và hoa mào gà 15g. Sắc uống trong ngày.

Chữa hen phế quản: lá mào gà trắng, lá bồng bồng, lá xương sông, dây tơ hồng (sao), mỗi vị 20g. Sắc uống.

Món ăn thuốc có thanh sương tử

Nước hãm thanh tương tử - đại táo: thanh tương tử 15g, đại táo 30g; hãm nước sôi, uống trước khi ăn. Dùng cho người bị quáng gà, giảm thị lực.

Thanh tương tử hầm gan gà: thanh tương tử 15g, gan gà 1 - 3 bộ, thêm gia vị hầm chín ăn. Món này rất tốt cho người bị đau mắt đỏ do viêm kết giác mạc chảy nước mắt.

Kiêng kỵ: Thanh sương tử thanh nhiệt rất mạnh, có tác dụng giãn đồng tử; người can thận hư và đồng tử giãn rộng kiêng dùng.

BS. Tiểu Lan

Hạt hạnh nhân, dưỡng chất tuyệt vời bảo vệ tim mạch

Cây hạnh nhân (Prunus dulcis, syn. Prunus amygdalus) là một loài cây bản địa từ Trung Đông, Ấn Độ và Bắc Phi.

Quả của hạnh nhân là một quả hạch, bao gồm một vỏ bên ngoài và một lớp vỏ cứng với hạt giống bên trong. Hạnh nhân được bán còn vỏ hoặc chưa bóc vỏ.

Nhiều nghiên cứu cho thấy hạt hạnh nhân có lợi ích bảo vệ tim mạch, với các lý do sau :

Hạnh nhân hạ LDL-cholesterol máu và giảm nguy cơ bệnh tim

Một thực phẩm giàu chất béo đó là tốt cho sức khỏe của bạn? Hạnh nhân có nhiều chất béo không bão hòa đơn, một loại chất béo tăng cường sức khỏe như được tìm thấy trong dầu ô liu, trong đó có liên quan với giảm nguy cơ bệnh tim. Năm nghiên cứu dịch tễ học lớn, bao gồm the Nurses Health Study, Iowa Health Study, Adventist Health Study và Physicians Health Study, tất cả thấy rằng tiêu thụ hạt hạnh nhân liên quan với giảm nguy cơ đối với bệnh tim.

Các nhà nghiên cứu đã nghiên cứu dữ liệu từ Nurses Health Study ước tính thay thế các loại hạt cho một số lượng tương đương của carbohydrate trong chế độ ăn uống hàng ngày dẫn đến giảm 30% nguy cơ bệnh tim. Các nhà nghiên cứu tính toán thậm chí còn kết luận giảm nguy cơ ấn tượng hơn với 45% khi chất béo lấy từ hạt hạnh nhân thay thế cho các chất béo bão hòa (được tìm thấy chủ yếu trong thịt và các sản phẩm sữa).

hanh nhan, hat hanh nhan, hanh nhan la duong chat tuyet voi bao ve tim mach

Hạnh nhân là dưỡng chất tuyệt vời chống xơ vữa động mạch

Một nghiên cứu được công bố trên tạp chí dinh dưỡng Anh quốc British Journal of Nutrition chỉ ra rằng khi các loại thực phẩm độc lập được biết đến để giảm cholesterol, như hạnh nhân, được kết hợp trong chế độ ăn uống lành mạnh, là một thực phẩm phụ gia có lợi. Trong nghiên cứu của 12 bệnh nhân có mức LDL cholesterol cao, một chế độ ăn uống có chứa hạnh nhân và các loại hạt khác, sterol thực vật (cũng được tìm thấy trong các loại hạt), protein đậu nành và chất xơ hòa tan (với số lượng cao trong các loại đậu, yến mạch, lê) làm giảm nồng độ LDL cholesterol (loại mỡ làm tăng nguy cơ cao nhất đối với bệnh tim mạch) với mức giảm tối đa chỉ sau 2 tuần.

Vitamin E, magiê, kali trong hạnh nhân phòng bệnh tim, ngừa đau tim và chống xơ vữa động mạch

Ngoài tác dụng làm giảm cholesterol, khả năng hạnh nhân làm giảm nguy cơ bệnh tim cũng có thể một phần do tác động chống oxy hóa của vitamin E được tìm thấy trong hạnh nhân, cũng như các tác dụng hạ LDL cholesterol của hạnh nhân (LDL là dạng cholesterol có liên quan đến xơ vữa động mạch và bệnh tim). Khi hạnh nhân được thay thế cho các chất béo truyền thống trong các thử nghiệm chế độ ăn ở người, LDL cholesterol có thể giảm 8-12%.

Ngoài chất béo lành mạnh và vitamin E, 1/4 chén hạnh nhân chứa 62 mg magiê cộng với 162 mg kali.

Magiê là chất “chẹn kênh canxi thiên nhiên”. Khi có đủ magiê, tĩnh mạch và động mạch giãn ra, làm giảm sức đề kháng và cải thiện dòng chảy của máu, oxy và chất dinh dưỡng trong cơ thể. Nghiên cứu cho thấy sự thiếu hụt magiê không chỉ liên quan đến cơn đau tim mà còn làm dễ khởi phát cơn đau tim.

Kali, một chất điện phân quan trọng liên quan đến việc dẫn truyền thần kinh và sự co lại của tất cả các tế bào cơ bao gồm cơ tim, là một chất rất cần thiết cho việc duy trì huyết áp bình thường và chức năng tim.

Hạnh nhân thúc đẩy sức khỏe tim mạch của bạn bằng cách cung cấp 162 mg kali và chỉ có 0,2 mg natri, với cấu trúc này và các tính chất như đã phân tích làm cho hạnh nhân là một sự lựa chọn đặc biệt tốt để bảo vệ chống lại bệnh tăng huyết áp và chống xơ vữa động mạch. Hãy thử dùng hạt hạnh nhân trong chế độ ăn hàng ngày của bạn.

TS.BS. Lê Thanh Hải

(tham khảo Whfoods)

Cây vòi voi có chữa được viêm da cơ địa dễ dàng?

Vợ cháu bị viêm da cơ địa ở tay khá lâu rồi, mỗi khi thay đổi thời tiết tay mẩn ngứa rất khó chịu. Vân tay cũng gần như bị mất. Cháu nghe nói cây vòi voi chữa được bệnh này. Mong bác sĩ tư vấn giúp cháu. Cháu xin cảm ơn ạ!

Đỗ Văn Thạch (kisithotang@gmail.com)

Theo sách “Những cây thuốc và vị thuốc Việt Nam” của cố giáo sư Đỗ Tất Lợi: Cây vòi voi còn gọi là vòi voi, cẩu vĩ trùng, đại vĩ đạo. Sở dĩ có tên vòi voi vì cụm hoa của cây giống hình vòi con voi. Người ta dùng toàn cây, hái về phơi khô hoặc dùng tươi. Vòi voi có 2 tác dụng chủ yếu: cao rượu vòi voi có tác dụng tốt với những trường hợp viêm hay cương tụ huyết chưa làm mủ: đắp cao rượu vòi voi giúp làm dịu đau ngay, bệnh nhân có cảm giác mát dịu, không nhức nhối, đắp trong 3-4 ngày, đắp ướt liên tục. Nếu đã làm mủ rồi, cao rượu vòi voi không có tác dụng làm tan mủ nhưng cũng có tác dụng làm cho mủ không lan rộng hơn và làm bớt sưng tấy. Tác dụng thứ 2 là chữa sưng đầu gối với triệu chứng: mỏi đầu gối sau vài ba ngày thì đỏ và sưng to, sốt nhẹ, đau không đi lại được. Dùng cây tươi chặt thành đoạn nhỏ, giã dập bỏ vào nồi sao với dấm hoặc với rượu, gói vào miếng vải, buộc vào chỗ sưng. Trong nhân dân, vòi voi là vị thuốc chữa tê nhức mụn nhọt, viêm họng mẩn ngứa. Dùng uống trong hay xoa đắp bên ngoài. Ngày uống 15-20g tươi. Tuy nhiên cũng theo sách này thì cây vòi voi có tính độc. Tính độc này thường không thể hiện ngay mà thường xuất hiện một cách âm ỉ, kéo dài, khó phát hiện, vì vậy Tổ chức Y tế Thế giới khuyến cáo không nên dùng vòi voi làm thuốc. Bộ Y tế (1985) cũng có chỉ thị thận trọng khi dùng vòi voi chữa bệnh dù chỉ là dùng ngoài để đắp theo y học cổ truyền. Và không thấy nói đến tác dụng điều trị bệnh viêm da cơ địa của vợ bạn.

Cây vòi voi.

Tốt nhất bạn nên đưa vợ đi khám để điều trị theo chỉ dẫn của bác sĩ hoặc lương y. Điều quan trọng là người bệnh cần giữ ẩm cho da, tránh tiếp xúc với hóa chất tẩy rửa, xà phòng... tránh thức ăn mà cơ thể dị ứng vì đó là nguyên nhân làm bệnh tái phát và thêm nặng.

BS. Vũ Lan Anh

Ngọc trúc

Ngọc trúc còn có tên là nữ ủy, là thân rễ phơi hay sấy khô của cây ngọc trúc. Ngọc trúc chứa các glucosid convallamarin và convallarin, sinh tố A và tinh bột, chất nhầy. Theo Đông y, ngọc trúc vị ngọt, tính hơi hàn; vào phế, vị. Có tác dụng tư âm nhuận phế, sinh tân dưỡng vị, trừ phiền chỉ khát. Trị các chứng phế âm hư, vị âm hư, có ho khan do phế táo, sốt, khát, đái dắt, trợ tiêu hoá. Hằng ngày dùng 9 - 20g bằng cách nấu, hầm, xào, nướng.

ngoc trucCây ngọc trúc.

Bài thuốc trị bệnh có ngọc trúc:

Tư âm nhuận phế: Trị các chứng âm hư nội nhiệt, hoặc bệnh nhiệt phạm đến phần âm, sốt ho khan, miệng khô, đau họng.

Bài 1: ngọc trúc 12g, hành sống 3 cây, cát cánh 6g, bạch vị 4g, đậu xị 16g, bạc hà 6g, chích thảo 3g, hồng táo 2 quả. Sắc uống. Trị âm hư, cảm mạo.

Bài 2: Thang ngọc trúc mạch môn đông: ngọc trúc 16g, sa sâm 12g, mạch môn đông 12g, cam thảo 8g. Sắc uống. Trị chứng phổi và dạ dày khô nóng phạm đến phần âm, họng khô, miệng khát.

Sinh tân dưỡng vị: Trị chứng phế vị táo nhiệt (phổi và dạ dày khô nóng), tân dịch khô, miệng khát, dạ dày rất nóng, ăn nhiều chóng đói. Dùng Thang ích vị: sa sâm 16g, sinh địa 20g, ngọc trúc 12g, mạch đông 12g. Sắc uống. Trị sốt cao cuối kỳ còn sốt lai rai, họng khô, miệng khát.

Nhuận phế chỉ khái: Trị chứng phổi khô nóng sinh ho, họng khô, đờm đặc không khạc ra được.

Bài 1: Ngọc trúc 20g, sa sâm 8g, ý dĩ nhân 16g. Sắc uống. Trị ho lao, ho khan, đờm ít.

Bài 2: Thang sa sâm mạch đông: sa sâm 12g, mạch môn 12g, ngọc trúc12g, thiên hoa phấn 12g, tang diệp 12g, cam thảo 4g. Sắc uống. Trị chứng phế vị táo nhiệt, ho khan ít đờm, họng khô, miệng khát. Nếu trong người nóng quá thì thêm địa cốt bì 12g.

Hỗ trợ tim mạch

Bài 1: Ngọc trúc 12g, đương quy 12g, tần cửu 12g, cam thảo 12g. Sắc uống liền trong 1 tuần. Trị thấp tim.

Bài 2: Ngọc trúc 12g, mạch môn 12g, bách hợp 12g, thạch hộc 12g. Sắc uống liền trong 1 tuần. Phòng nhiễm bệnh bạch hầu và viêm cơ tim.

Bài 3: Cao sâm trúc: Đảng sâm 12g, ngọc trúc 20g. Sắc uống. Phòng và điều trị bệnh đau do co thắt mạch vành.

Món ăn thuốc có ngọc trúc:

Nhựa mận vịt ngọc trúc: ngọc trúc 50g, sa sâm 50g, vịt 1 con, hành tây 1 củ, gừng tươi 6g. Vịt làm sạch, cho vào nấu với sa sâm, ngọc trúc, đầu tiên đun to lửa cho chín, sau cho nhỏ lửa tiếp trong 1 giờ cho chín nhừ, lấy nước bỏ bã thuốc, cho gia vị. Thích hợp cho người bệnh thái đáo đường, viêm teo niêm mạc dạ dày, suy nhược, táo bón.

Thịt lợn hầm ngọc trúc: thịt lợn 200g thái lát, ngọc trúc 15 - 30g. Hầm nhừ, bỏ bã thuốc, thêm gia vị. Dùng cho người ho khan dài ngày.

Tim lợn tiềm ngọc trúc: tim lợn 500g, ngọc trúc 50g, gừng tươi 10g, hành sống 10g. Ngọc trúc nấu lấy nước bỏ bã. Cho nước, gừng, hành, ớt tươi và tim lợn vào nồi luộc chín, đổ nước ngọc trúc vào, đun cho tim lợn chín nhừ và nước cạn dần, thêm gia vị muối mắm, đường trắng, bột ngọt, đun tiếp thành nước canh đặc. Thích hợp cho người bệnh mạch vành, đái tháo đường, lao phổi.

Cháo ngọc trúc: ngọc trúc 30g, gạo tẻ 80 - 100g. Ngọc trúc nấu lấy nước bỏ bã, cho gạo nấu cháo, khi ăn thêm đường trắng. Dùng cho người ho khan dài ngày (phế âm hư) hoặc sau sốt cao miệng khô rát họng (vị âm hư).

Thịt dê hầm ngọc trúc: ngọc trúc 20g, thịt dê nạc 200g, gia vị thích hợp, muối vừa đủ, hầm cách thuỷ. Tác dụng bổ huyết dưỡng âm. Tốt cho thời kỳ dưỡng bệnh, người sau đẻ, âm hư huyết hư, suy nhược sút cân, mỏi mệt mất sức.

Kiêng kỵ: người đầy trướng bụng, đàm thấp (ho nhiều đờm, tiêu chảy lỏng lỵ) không dùng. Khi chế biến nấu ăn không dùng đồ sắt (dao, nồi sắt).

Lương y: Thảo Nguyên

Thực hư tác dụng của đông trùng hạ thảo

Sau khi đọc bài báo “Đông trùng hạ thảo biệt dược đắt hơn vàng hay chỉ là cú lừa thế kỷ” đăng trên báo Lao động số 103 ra ngày 6/5/2016. Trích trong tờ điện tử Sina.com (Trung Quốc). Nhiều người đã tá hỏa gọi điện hỏi chúng tôi về sự thật của vị thuốc này.

Theo sách Trung Quốc, đông trùng hạ thảo là một loại nấm sâu (khẩn tòa) có vị ngọt tính ôn vào hai kinh phế và thận, có tác dụng tư âm bổ thận, trị chứng ho ra máu, tự ra mồ hôi, liệt dương, di tinh, sau khi ốm người mệt mỏi, ngày dùng từ 4-12g. Đông trùng hạ thảo được xếp vào nhóm thuốc bổ dương gồm 28 vị, đông trùng hạ thảo được xếp vào hàng thứ 8. Đáng tiếc trong 40 bài thuốc bổ thận tráng dương của các danh y nổi tiếng của Trung Quốc qua các thời đại, không có bài nào dùng đông trùng hạ thảo, phần nhiều dùng lộc nhung, nhân sâm, tắc kè, hải cẩu pín, hải mã, nhục thung dung, tiên linh tỳ kỷ tử... Xuất xứ của đông trùng hạ thảo là từ Tây Tạng Trung Quốc, tất nhiên, ở Tây tạng cũng chỉ một số vùng có khí hậu, thổ nhưỡng đặc biệt mới có loại cây này. Cây này cũng giống như những cây khác mùa hè mọc thành cây thảo mộc, mùa đông lụi cây cành lá còn cái rễ nằm dưới lòng đất như một sợi nấm có hình thù như con sâu, đến mùa xuân mọc lên cây non, dân địa phương hái về ăn, vì hái nhiều quá nên ngày một cạn kiệt, mới trở thành quí hiếm. Chỉ có đất và khí hậu ở một số vùng của Tây Tạng mới có đông trùng hạ thảo, vì khí dương của trời hòa hợp với khí âm của đất ở những vùng đặc biệt mới cho những sản phẩm đặc biệt.

Hiện nay, người ta đang quảng cáo đông trùng hạ thảo được nuôi cấy trong ống nghiệm thì sao? Nuôi cấy trong ống nghiệm dù có những chất gì đi nữa thì không bằng loại tự nhiên vì trong ống nghiệm không có khí trời và khí của đất ở vùng đặc biệt đó. Xin hiểu rằng đông trùng hạ thảo chỉ là một vị thuốc, nếu muốn dùng có hiệu quả phải phối hợp với các vị thuốc khác. Khi chữa bệnh một bài thuốc phải có đầy đủ bốn thành phần: quân, thần, tá, sứ để làm tăng tác dụng của vị chính. Đó là chưa nói đến trên thị trường Việt Nam hiện nay 90% đông trùng hạ thảo là loại không có chất lượng, loại giả.

TTND.BS. Nguyễn Xuân Hướng (nguyên Chủ tịch TW Hội Đông y Việt Nam)

Dây tơ hồng vàng làm thuốc

Dây tơ hồng vàng (thuộc họ bìm bìm) là một loại dây ký sinh trên các cây khác, thân sợi có màu vàng hay nâu nhạt, không có lá. Cây có rễ “mút” để hút các thức ăn từ cây chủ. Hoa ít thấy, hình cầu màu trắng nhạt, gần như không có cuống, tụ thành 10 - 20 hoa một. Bộ phận dùng làm thuốc là dây hoặc hạt (thỏ ty tử) đã được phơi hay sấy khô.

Theo Đông y, hạt tơ hồng có vị ngọt, cay, tính ôn, vào 2 kinh can và thận có tác dụng bổ can thận, tráng dương, ích tinh tủy, mạnh gân cốt, thông tiểu, nhuận tràng, sáng mắt. Hạt tơ hồng được dùng làm thuốc chữa thận hư tinh lạnh, liệt dương, di tinh, gối lưng đau mỏi, đau nhức gân xương, tiểu đục, chống viêm, an thần...

Dây tơ hồng có vị ngọt đắng, tính bình, không độc. Có tác dụng thanh nhiệt, lương huyết, lợi thủy, giải độc. Dùng chữa thổ huyết, nục huyết, huyết băng, lâm trọc, đới hạ, lỵ tật, hoàng đản, ung nhọt, rôm sảy...

Dây tơ hồng vàng.

Một số bài thuốc từ tơ hồng vàng:

Hỗ trợ điều trị chứng liệt dương: Hạt tơ hồng 12g; lộc giác giao 20g; thục địa, phá cố chỉ, bá tử nhân, phục linh mỗi vị 12g. Làm thành viên, mỗi ngày uống 20 - 30g. 15 ngày là một liệu trình.

Chữa tiểu đêm, di tinh: Hạt tơ hồng 7g, phúc bồn tử 4g, kim anh tử 6g, nước 400ml. Sắc còn 100ml. Lọc bỏ bã. Chia 2 - 3 lần uống trong ngày. Dùng liên tục 10 ngày một liệu trình.

Tiểu tiện không thông: Dây tơ hồng vàng một nắm, nấu cùng gốc hẹ, lấy nước bôi vào vùng bụng quanh rốn. Dùng 3 - 5 ngày.

Chữa khí hư do thận hư: Hạt tơ hồng 8g; thục địa, hoài sơn mỗi vị 12g; sơn thù, đan bì, phục linh, phụ tử chế, trạch tả, khiếm thực, tang phiêu tiêu mỗi vị 8g; nhục quế 4g. Sắc uống ngày một thang.

Chữa thận hư không tàng tinh, di tinh: Hạt tơ hồng 8g; thục địa, cao ban long mỗi vị 12g; hoài sơn, kỷ tử, đương quy, đỗ trọng, phụ tử chế mỗi vị 8g; sơn thù 6g; nhục quế 4g. Tất cả tán bột làm viên, uống mỗi ngày 10 - 20g hoặc sắc uống ngày một thang.

Chữa kiết lỵ: Dây tơ hồng vàng (hái toàn cây, cả nụ và hoa) thêm vài lát gừng vào sắc uống (với liều 30g mỗi ngày). Dùng trong 5 ngày.

Phúc bồn tử.

Chữa đau lưng mỏi gối do thận suy yếu: Hạt tơ hồng 12g; cẩn tích, củ mài mỗi vị 20g; bổ cốt toái, tỳ giải, đỗ trọng mỗi vị 16g; rễ gối hạc, rễ cỏ xước, dây đau xương mỗi vị 12g. Sắc uống ngày một thang. 10 ngày là một liệu trình.

Thuốc bổ - cố tinh: Hạt tơ hồng 8g, ngũ vị tử 1g, xa tiền tử 1g, khởi tử 8g, phúc bồn tử 4g. Các vị tán nhỏ trộn với mật ong, làm thành viên bằng hạt ngô, mỗi lần uống 4g. 10 ngày là một liệu trình, nghỉ 5 - 7 ngày lại tiếp tục dùng.

Dương suy, di tinh, lưng gối đau nhức, tiểu tiện nhỏ giọt ở đàn ông và bạch đới ở phụ nữ: Dây tơ hồng vàng 9 - 12g sắc với nước, pha thêm chút rượu hoặc đường vào để uống.

Bác sĩ Lê Hoài Nam

Giải mã Lan Gấm bí ẩn

Đối với các bệnh tim mạch, các nhà khoa học Nhật Bản cũng chứng minh tác dụng dược lý của Lan Gấm qua các bằng sáng chế số 7–76522 và 6–2936...